Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến Thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến Thức. Hiển thị tất cả bài đăng
BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của hãng xe BSA

BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của hãng xe BSA

Xe BSA bây giờ chỉ còn là những hoài niệm đẹp sau một thời làm mưa làm gió trong lĩnh vực môtô. Cuộc đời con người cũng vậy, có sinh có diệt. Sự vận động không ngừng của tự nhiên đôi lúc làm người ta cảm thấy chạnh lòng. Trong suốt quá trình ấy, vạn vật khai sinh và cũng biến mất liên tục theo những quy luật nhất định.
Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA
Ở thế kỉ 20, đã có rất nhiều sự kiện xảy ra, nhưng một trong những sự kiện gây ảnh hưởng và khiến giới yêu xe có cảm xúc nhất chính là sụp đổ của đế chế xe lớn nhất hành tinh trong khoảng thời gian thập niên 60 trở về trước: BSA. Sự sụp đổ này cũng đánh dấu công cuộc xâm chiếm thị trường toàn thế giới và “xoay trục” về châu Á của các hãng xe máy Nhật Bản, tạo ra ngành công nghiệp xe motor ngày nay. Song, dẫu rằng lẽ ấy là điều tự nhiên, đôi khi những sự ra đi lại đem lại nhiều niềm nuối tiếc quyến luyến cho con người.
Xem thêm:
  • Lịch sử và sự phân biệt các đời Honda Cub

Lịch sử hãng xe BSA

BSA, mang tên đầy đủ The Birmingham Small Arms Company Limited, được thành lập vào năm 1861 tại Birmingham bởi 14 thợ làm súng lành nghề, với mục tiêu chính là… sản xuất vũ khí. Vào năm 1863, BSA cung cấp 20.000 súng trường cho bộ binh Thổ Nhĩ Kì, tuy nhiên tới năm 1879, nhà máy buộc phải đóng cửa, sau khi ngừng hoạt động khoảng một năm bởi công việc cung cấp vũ khí không ổn định.
Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA
Năm 1863, BSA có đơn đặt hàng cung cấp 20.000 súng trường bộ binh cho Thổ Nhĩ Kỳ.

Việc quản lý Công ty BSA đã được thay đổi tại một cuộc họp bất thường vào ngày 30 tháng chín năm 1863. Tại cuộc họp này, số phận của BSA có những bước phát triển mới.
Sự thay đổi mang tính chiến lược này khiến BSA, một thời gian sau đó, “bén rễ” với mảng thị trường phổ thông hơn là những chiếc xe đạp. Khi này, khu nhà máy cũ vốn được dùng để sản xuất súng của hãng tỏ ra thích nghi khá tốt với việc tạo ra các thành phần của xe đạp. Tới năm 1880 – 1881, BSA cho ra mắt chiếc “Dicycle”, hay còn gọi là “Otto dicycle”, dựa theo tên của nhà phát minh. Tuy nhiên, trớ trêu thay, nhà máy tiếp tục đóng cửa vào cuối thập niên, khoảng năm 1887, khi BSA nhận hợp đồng cung cấp 1200 súng trường Magazine Lee–Metford mỗi tuần cho quân đội Anh từ đối tác Văn phòng Chiến tranh của chính phủ.
Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA
Các hoạt động mua bán vũ khí bị hạn chế. Năm 1879, nhà máy ngưng sản xuất, công nhân không có việc làm và đã bị đóng cửa trong một năm. Từ một nỗ lực của chính phủ trong việc cứu BSA vào năm 1973, Mangan Bronze Holdings tiếp quản BSA và có những chính sách khôi phục. Sau đó chủ sở hữu của Norton-Villiers và các công ty con đóng cửa trong vài thập kỷ. Trong số các công ty phụ, Arms Birmingham Small Limited vẫn tồn tại với danh nghĩa công ty con của Manganese Bronze nhưng tên của nó cũng đã bị thay đổi vào năm 1987.
Xem thêm:
  • Lịch sử và đặc trưng của phong cách Chopper
Năm 1893 BSA bắt đầu tập trung sản xuất xe máy và tiếp tục cung cấp hạng mức thương mại các chu trình và bộ phận xe máy cho đến đến năm 1936. BSA mua lại công ty sản xuất Redditch ở Eadie vào năm 1907. Tới năm 1930 các hoạt động chính của Tập đoàn BSA là sản xuất xe máy BSA và xe Daimler.
Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA
BSA bắt tay vào sản xuất những chiếc xe gắn máy thực sự đầu tiên của họ từ năm 1906. Trong thời kì đầu, tận dụng các máy móc cũ đã từng được dùng để sản xuất xe đạp, BSA cho ra mắt các mẫu xe gắn động cơ của một nhà cung cấp khác bởi tới thời điểm này, họ vẫn chưa làm chủ được công nghệ chế tạo động cơ. Chiếc motor được BSA sản xuất toàn bộ đầu tiên ra đời 4 năm sau, mang động cơ xi lanh đơn 498cc, với công suất vỏn vẹn… 3.5 mã lực. Đây cũng là thời điểm đánh dấu sự bắt đầu của kỉ nguyên của BSA.
Xem thêm: Harley Davidson - Đế chế môtô đại diện cho phong cách Mỹ

Cùng thời điểm này, song song với motor, BSA cũng triển khai hệ thống sản xuất ô tô. Năm 1910, BSA mua lại Daimler (tiền bối của Daimler-Benz, công ty sau này đã trở thành DaimlerAG, quen thuộc hơn với vai trò công ty mẹ của các nhãn hiệu Mercedes-Benz, Smart, AMG…) nhằm chế tạo động cơ cho ô tô của mình, tuy nhiên mảng sản phẩm này cũng không khiến BSA khấm khá hơn. 
Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA
Cuối 1919, hãng cho ra mắt động cơ V-Twin đầu tiên của mình, mã hiệu Model E, 770cc, có hai xi lanh tạo góc 50 độ cùng van nạp/xả nằm bên hông buồng đốt (side valve), sản sinh công xuất khoảng 7 mã lực (mạnh tương một trong đương chiếc Underbone thành công bậc nhất của Honda – Honda Wave), dẫu rằng, tại thời điểm đó, đây là một công trình khá ấn tượng. Model E, hay Type A, được BSA bán với giá 130 bảng Anh, cùng một số trang bị như hệ thống côn 7 lá, hộp số 3 cấp với cần khởi động đạp và giảm sóc trước phát triển từ xe đạp.

Trong lịch sử tồn tại của mình, BSA đã sản sinh ra những cỗ máy vô cùng ấn tượng, và chúng cũng được xem như những cột mốc đánh dấu những trang sử của tập đoàn một cách sinh động, từ thời kì hoàng kim tới khi nó lụi tàn. Chiếc BSA M24 “Gold Star” được hãng bắt đầu sản xuất từ năm 1938 là khởi điểm cho sự lớn mạnh của tập đoàn. Dựa trên nguyên mẫu M23 Empire Star tiền bối, chiếc xe được duy trì lắp ráp cho tới tận 25 năm sau. “Gold Star” sở hữu động cơ 4 thì chế tạo hoàn toàn bằng tay, với mức dung tích dao động từ 350cc cho tới 500cc. Vào những năm 1950, “Gold Star” trở nên nổi tiếng bởi hiệu năng đỉnh cao, và sở hữu tốc độ nhanh bậc nhất giữa những xe sản xuất hàng loạt. Suốt thập niên này, những chiếc “Sao Vàng” bán chạy như tôm tươi. Chiếc Gold Star thành công tới mức, động cơ cũng như kết cấu khung của nó được tinh chỉnh với nhiều cấu hình khác nhau và thống trị rất nhiều giải đua, từ Isle of Man TT khắc nghiệt, cho tới những cuộc đua Scrambler chìm trong bùn đất.

BSA đã từng là nhà sản xuất motor lớn nhất thế giới, và thậm chí mảng sản xuất motor chỉ là một phần nhỏ của đế chế tài chính BSA hùng mạnh khi ấy. Thực tế, BSA giữ vững vị trí tập đoàn lớn nhất thế giới nhiều năm với các sản phẩm khác ngoài motor, ô tô và vũ khí như: xe bus, thép, thiết bị công nghiệp cỡ lớn, đạn dược, thiết bị quân sự…

Chính sự đầu tư dàn trải, mất doanh thu và các khoản đầu tư kém chất lượng cho các sản phẩm mới trong lĩnh vực xe máy, điển hình như thâu tóm hãng xe Triumph dẫn đến các vấn đề về tài chính và kế hoạch kinh doanh.

Cái chết được báo trước của BSA

Chính tại quãng thời gian này, đế chế BSA đang lớn mạnh hơn bao giờ hết. Nhà công nghiệp gia người Anh Sir Bernard D.F. Docker trở thành chủ tịch của BSA. Ông cũng đồng thời đảm nhiệm vai trò này tại Daimler Motor Company. BSA đã mua được Triumph (Triumph với những chiếc Bonneville, Tiger…) sau một thỏa thuận bí mật với Ariel Motorcycles. Tuy nhiên tới đầu những năm 60, một số nhân tài của tập đoàn lần lượt ra đi. Nhiệm kì của Docker kết thúc năm 1956 và để cựu chủ tịch của Triumph, John Young Sangster nhậm chức, trước khi nghỉ hưu 5 năm sau. Công ty dần dần trở thành một cái bóng đáng thương của chính nó trước đây, những sai lầm trong chính sách kinh doanh cũng như thiết kế và nghiên cứu sản phẩm dần dần xuất hiện, báo hiệu tương lai không mấy sáng sủa.

Khi đã sở hữu thương hiệu Triumph, hãng bán các sản phẩm của mình dưới nhiều cái tên khác nhau. 1959, BSA giới thiệu chiếc Scooter “Sunbeam”, hay còn gọi với cái tên Triumph Tigeress, có động cơ 2 thì 175cc. Tới cuối thập niên 60, có tới 60% doanh số của BSA cũng như Triumph nằm ở thị trường Mỹ và các quốc gia khác, nhưng bình minh của các hãng xe đến từ đất nước mặt trời mọc dần phá tan bóng mây rộng lớn của các nhà sản xuất motor tại Anh và Mỹ. Sự trỗi dậy mạnh mẽ và đột ngột này có phần làm ông lớn BSA bất ngờ. Tập toàn liên tục đưa ra một chuỗi những quyết định sai lầm và thiếu kiên nhẫn. 1962, BSA giới thiệu chiếc A50 (500cc) và A65 (650cc) động cơ 2 xi lanh thẳng hàng có kết cấu Unit-Construction (động cơ và hộp số sử dụng chung vỏ như xe hiện đại). Chúng bị chê trách kịch liệt bởi sự xấu xí và gặp vấn đề với lỗi rung lắc chưa từng có trước đây, để rồi bị ngừng sản xuất và đi vào lãng quên cho dù chỉ 1 năm sau, công ty con của tập đoàn, Triumph cũng sử dụng kết cấu này cho chiếc 650 twin của mình và thành công rực rỡ. 1963, BSA giết chết dòng xe bán chạy nhất mà hãng sở hữu, chiếc Gold Star, mà không hề có bất cứ sự thay thế thích hợp nào.

BSA Gold Star

Hoàn cảnh cấp bách liên tục đưa BSA vào con ngõ cụt tối tăm, khi số lượng lớn xe Honda, Kawasaki, Suzuki đang dần giành lại thị phần của hãng ngay trên sân nhà, đặc biệt là tại phân khúc Enduro 2 thì nhỏ gọn. Người khổng lồ vội vã đưa ra chiếc Bantam, một nỗ lực trong vô vọng nhằm cứu vãn thị trường vào năm 1968, với thiết kế cổ lỗ không hề hợp thời.
Xem thêm:
  • Lịch sử phát triển khung xe Moto
  • Lịch sử và phân loại dòng xe Moped
BSA đã có những bước tiến sai lầm khi là người khổng lồ bị vấp ngã. 1963, hãng đề đạt một ý tưởng đại tài và vượt thời gian về cỗ máy 750cc 3 xi lanh chưa từng có trước đây. Tới 1965, những nguyên mẫu đầu tiên đã được tiến hành chạy thử trên hệ thống khung của Bonneville. Chiếc xe này sẽ là sự thay thế cho những mẫu Triumph 650 xi lanh đôi đã gần hết vòng đời, như Bonneville và TR6, mang cái tên Trident. Tuy nhiên, dự án đầy hứa hẹn bị đình trệ. 1967, Honda ra mắt chiếc CB 750-Four gây chấn động và thay đổi tất cả. Khi này, BSA mới chợt tỉnh thức và nhận ra họ cần phải nhanh chóng thúc đẩy mẫu xe mới, nhưng đáng tiếc thay, khi này, ban lãnh đạo của hãng đã không còn giữ được đường lối sáng suốt như xưa. Thiết kế của xe ở các phiên bản sau được thay đổi, nhưng tất cả đã quá muộn. Vị trí dẫn đầu về tốc độ cho xe sản xuất hàng loạt của mẫu xe này, có được nhờ khối động cơ 58 mã lực cùng hộp số 4 cấp, cũng nhanh chóng bị soán ngôi bởi chính chiếc CB 750 công nghệ cao. Tại thị trường Mỹ, Rocket 3 ghi dấu những cố gắng nhỏ của công ty, khi chiếc xe được thiết kế lại bởi Craig Vetter, biến nó trở thành chiếc Triumph X75 Hurricane Mỹ Hóa. Rocket 3 ngậm ngùi viết nên những dòng chữ nhạt nhòa cuối cùng trong chương sử cuối cùng của BSA.

Liệu huyền thoại BSA có được hồi sinh trở lại và lợi hại hơn xưa? Hãy xem một chiếc BSA có thể độ lại thành một cái gì đó mới mẻ, độc đáo hay không.



1969 BSA Rocket 3. Một động cơ tuyệt vời bị lãng quên bởi sự thất bại về thiết kế cũng như chiến lược kinh doanh.

1973, chính phủ anh vào cuộc và sát nhập tập đoàn BSA-Triumph, sau những khủng hoảng tài chính, cùng Norton-Villiers, tạo ra Norton Villiers Triumph (NVT). Những chiếc xe cuối cùng bước ra khỏi nhà máy của BSA năm 1972 bao gồm các mẫu: B50SS Gold Star, A65F Firebird Scrambler, A70L Lighting, A75R, A75RV Rocket 3 và chiếc B50MX Motocross – sau này được bán tại thị trường Mỹ với cái tên Triumph TR5 MX. Đây cũng là dấu chấm hết cho sự sụp đổ của đế chế đã từng đạt danh hiệu Queen’s Awards for Exports cùng kỉ lục xuất khẩu motor chỉ thua rượu Whiskey tại Anh trong thời kì hoàng kim.
Xem thêm:
  • Lịch sử hình thành và phát triển của Honda
  • Hướng dẫn phân biệt các loại động cơ Môtô

Một câu chuyện nhỏ về BSA

Có một tay Biker ở Anh độ xong một chiếc BSA và tự gọi nó là Burton – một khái niệm còn quá mới mẻ đối với hầu hết Biker. Vậy Burton là gì?
Theo Edward Jonkler (chủ xe) định nghĩa: máy là của chiếc Buell được đặt vào sườn của Norton, làm cho nó có dáng vẻ cổ điển nhất có thể khi loại bỏ công nghệ phun xăng điện tử, thay vào đó là bình xăng con. Cuối cùng khoác lên mình màu truyền thống – màu xanh lá của những tay đua người Anh.
Đầu tiên là phần động cơ. Động cơ được lấy từ chiếc Buell X1 (1200cc – 95 mã lực). Khối máy 1200cc cũ ‘hơi hơi’ yếu nên phần việc tăng nội công đã được thực hiện với nhiều động tác khác nhau (chủ xe không cung cấp cụ thể thông số độ). Nhưng theo công việc độ lại này làm dung tích buồng đốt lên đáng kể. Nội công thâm hậu hơn xưa.Cục máy dung tích 1200cc giờ đây được gắn vào bộ khung huyền thoại Featherbed của Nortoncùng với phuộc trước từ chiếc Yamaha R6 và phuộc sau (có thể điều chỉnh) của Hagon.
Sau đó khối máy được giao tới cho Steve Peper Motorcycles để làm công việc trang trí. Toàn bộ máy sẽ được làm sạch sẽ và thêm một số chi tiết được đánh bóng sáng choang.
Một điểm làm bật chất chơi của chủ xe là khi anh ta quyết định loại bỏ hệ thống phun xăng điện tử và thay thế bằng công nghệ cũ hơn, bình xăng con cổ điển từ hãng Mikuni HSR42. Một điểm rất đáng ghi nhận khi chiếc xe hoàn toàn trở về quá khứ – thời mà các tay chơi phải tự tăng chỉnh xăng gió để chiếc xe đạt hiệu năng tốt nhất. Nghệ thuật ở chỗ này…
Chiếc xe sau đó được chuyển tới xưởng Redmax Speed Shop để tiếp tục công việc độ. Redmaxđược biết đến rộng rãi trong giới chơi xe với thế mạnh là dạng Flat tracker, tuy nhiên họ cũng một sở trường khác là độ những chiếc cafe racer theo phong cách thuần cổ điển.
Bánh trước và sau đều dùng lốp Avon Roadriders được gắn vào bộ niềng căm 18. Chiếc xe được hãm tốc bằng bộ thắng trước đĩa đôi từ hàng hiệu Brembo.
Phụ kiện Motogadget m-Unit được sử dụng làm trung tâm xử lý chính của chiếc xe, đi kèm theo đó là ắc quy loại siêu nhẹ đến từ Shido LTZ. Tất cả đều được giấu ngay ngắn phía dưới yên xe. Chiếc xe có một điểm khá ngon khi khởi động máy thông qua hệ thống RFID keyless.
Nói nôm na là chỉ cần nhấn một nút là chiếc xe có thể đề được mà không cần phải dùng chìa khoá; để làm được điều đó thì chủ xe sẽ có một “thiết bị” để khi đến gần chiếc xe, chiếc xe tự động nhận diện được chủ xe thông qua tần số radio và cho phép chiếc xe có khả năng đề máy được. Thiết bị này có thể nhỏ gọn như card visit và nhét vào trong ví (không còn lo lắng khi đi chơi lại rơi chìa khoá ).
Bình xăng vẫn “kiểu của Norton”, tuy nhiên hơi nhỏ hơn một chút khi chỉ chứa được 3,5 gallon (13,2 lít xăng) thay vì là 5 gallon nguyên bản. Đây là phụ kiện được đặt từ hãng chuyên gia công bình xăng theo phong cách của những chiếc xe thời kỳ trước là TAB II Classics. Các bộ phận còn lại như chắn bùn, yên xe (có tích hợp đèn và xi nhan sau), pô đều được tự gia công bằng tay. Trong khi đó tay lái clip-on được lấy từ một chiếc Triumph cổ.

Style Bụi 
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Các bạn đam mê mô-tô chắc đã quá quen thuộc với hãng Suzuki, là một tập đoàn đa ngành, nhưng chúng ta thường liên tưởng Suzuki với những dòng xe Sport huyền thoại như Suzuki Sport, Hayabusa... Sau đây StyleBui xin giới thiệu về lịch sử của hãng xe của Nhật này và những nét lịch sử ở Việt Nam.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm


Lịch sử hãng Suzuki - chinh phục tốc độ từ những sợi vải

Công ty Mô tô Suzuki (Suzuki Kabushikigaisha) là một công ty đa quốc gia của Nhật chuyên sản xuất các loại xe hơi (đặc biệt là Keicar và xe thể thao nhỏ), xe máy, xe địa hình, động cơ thuyền máy, xe lăn, và các loại sản phẩm động cơ đốt trong khác.
Suzuki hiện là Nhà máy sản xuất ô tô đứng thứ 12 trên thế giới, có 35 cơ sở sản xuất đặt tại 23 quốc gia với số nhân công lên tới hơn 45,000 người; có 133 nhà phân phối trên 192 quốc gia.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Michio Suzuki (1926-1998)


Vào năm 1909, Michio Suzuki đã thành lập Xưởng sản xuất máy dệt Suzuki tại một ngôi làng nhỏ thuộc Hamamatsu, ở cạnh bờ biển Nhật Bản. Việc kinh doanh bùng nổ khi Suzuki sản xuất máy dệt cho ngành công nghiệp dệt may khổng lồ của Nhật Bản. Mục tiêu của Suzuki lúc bấy giờ là tạo nên những máy dệt tốt hơn, thân thiện với công nhân hơn. Vào năm 1929, Michio Suzuki đã phát minh ra một loại máy dệt mới, và đã được xuất khẩu ra nước ngoài. Suzuki đã có 120 bằng phát minh và kiểu dáng thương mại. Trong 30 năm đầu kể từ ngày thành lập công ty, trọng tâm của công ty là phát triển và sản xuất những cỗ máy phức tạp này.
Xem thêm: Kawasaki - Chặng đường chinh phục đỉnh cao của tốc độ
 
Mặc dù có được sự thành công lớn trong ngành dệt, Suzuki vẫn cho rằng công ty của ông phải đa dạng hóa và ông bắt đầu hướng sang các sản phẩm khác. Dựa theo nhu cầu của người tiêu thụ, ông quyết định rằng cách đầu tư mới thực tiễn nhất là sản xuất xe hơi nhỏ. Dự án bắt đầu vào năm 1937, và trong vòng 2 năm Suzuki đã hoàn thành một vài mẫu xe cơ bản. Những chiếc xe đầu tiên của Suzuki được vận hành bởi động cơ đột phá lúc bấy giờ với bốn xi-lanh, bốn thì, làm mát bằng chất lỏng. Nó có hộp số và cần số bằng nhôm và có sức kéo 13 mã lực chỉ với động cơ 800 phân khối.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Do sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới lần thứ hai, kế hoạch sản xuất các loại xe mới của Suzuki được tạm hoãn khi chính phủ cho rằng xe hơi là một loại "hàng hóa không cần thiết". Sau khi kết thúc cuộc chiến, Suzuki quay trở lại sản xuất máy dệt. Ngành sản xuất máy dệt phát triển nhanh khi chính phủ Mỹ đồng ý xuất vải bông (cotton) sang Nhật Bản. Tài sản của Suzuki tăng lên nhanh chóng vì các đơn đặt hàng bắt đầu tăng lên từ các nhà sản xuất may mặc nội địa. Nhưng niềm vui không kéo dài khi thị trường vải bông sụp đổ vào năm 1951.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Đối diện với thử thách khổng lồ này, suy nghĩ của Suzuki quay trở lại phương tiện gắn máy. Sau chiến tranh, người Nhật có nhu cầu về phương tiện vận chuyển cá nhân rất cao. Một số nhà máy bắt đầu cho ra những động cơ chạy bằng khí gaz "gắn", có thể gắn vào một chiếc xe đạp bình thường. Chiếc xe hai bánh đầu tiên của Suzuki có dạng một chiếc xe đạp gắn máy có tên gọi là "Không tốn sức". Được thiết kế để giảm giá thành và dễ lắp ráp cũng như bảo trì, chiếc Không tôn sức 1952 có động cơ hai thì 36 phân khối. Một tính năng chưa từng có trước đây là hệ thống líp đôi, cho phép người lái có thể đạp xe với sự phụ trợ của động cơ hoặc không, hoặc chỉ đơn giản gỡ bỏ bàn đạp và chạy bằng máy. Hệ thống này tài tình đến nỗi cơ quan sáng chế của chính phủ dân chủ mới đã trao cho Suzuki một khoản tiền trợ cấp để tiếp tục nghiên cứu về ngành kỹ thuật xe gắn máy. Và từ đó Công ty Mô tô Suzuki được thành lập.
Xem thêm: Yamaha Motor - Lịch sử và con đường bước đến đỉnh cao
 
Vào năm 1953, Suzuki có chiến thắng đầu tiên trong cách giải đua xe khi chiếc "Diamond Free" 60cc chiến thắng trong giải leo núi Phú Sỹ.


Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Suzuki Diamond Free 1953


Đến năm 1954, Suzuki đã sản xuất 6.000 xe máy 1 tháng và đã chính thức đổi tên thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mô tô Suzuki. Sau thành công của những chiếc xe đầu tiên, Suzuki đã làm ra chiếc xe thậm chí còn thành công hơn: Suzulight 1955. Suzuki đã trình bài thiên hướng sáng tạo mới của mình. Suzulight có bánh lái trước, hệ thống giảm xóc bốn bánh độc lập và bộ chỉnh hướng răng cưa và nhông - những tính năng phổ biến ở xe hơi nửa thế kỷ sau.

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Suzuki GT750

Suzuki bắt đầu sản xuất xe máy từ năm 1952, kiểu đầu tiên là một chiếc xe đạp gắn máy. Trong suốt thập niên 1950, 1960 và đầu thập niên 1970, công ty chỉ sản xuất xe máy với động cơ hai thì, kiểu xe hai thì lớn nhất là kiểu xe ba xi lanh làm mát bằng nước GT750. Một nhân tố quan trọng trong sự thành công của Suzuki trong cuộc cạnh tranh về động cơ hai thì là tay đua Grand Prix Ernst Degner của Đông Đức, người đã trốn sang phía Tây vào năm 1961, mang lại cho công ty các bí mật về động cơ hai thì từ nhà sản xuất MZ của Đông Đức. Suzuki đã mướn Degner, và anh ta thắng giải Vô địch thế giới 50cc vào năm 1962.
Xem thêm: Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển 

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Suzuki GS400

Tuy nhiên, đến năm 1976, Suzuki đã giới thiệu chiếc xe máy đầu tiên với động cơ bốn thì, GS400 và GS750. Từ đó, Suzuki đã tạo nên danh tiếng của một nhà sản xuất động cơ xe đua chất lượng cao.

Vào năm 1994, Suzuki cùng với Nhà máy cơ khí Nam Kinh Tấn Thành hợp tác thành nhà sản xuất và xuất khẩu xe máy Trung Quốc có tên là Tấn Thành Suzuki.

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

2002 Suzuki FXR150
Xem thêm: Lịch sử xe Vespa và phân biệt các dòng xe Vespa cổ 

Suzuki Việt Nam- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm


Công ty Việt Nam Suzuki được thành lập vào ngày 21 tháng 4 năm 1995 và bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 1996, có nhiệm vụ sản xuất và lắp ráp cả xe máy và xe ô tô nhỏ. Nhà máy của công ty đóng tại Khu công nghiệp Biên Hòa. Sản lượng trung bình mỗi năm là 4000 chiếc xe ô tô và 60.000 xe gắn máy
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Với câu slogan đã trở nên quen thuộc “Way of Life”, Suzuki không ngừng nỗ lực và chấp nhận tất cả những thách thức trong việc cải tiến công nghệ cũng như sáng tạo thiết kế để phục vụ người tiêu dùng Việt Nam những sản phẩm xe máy chất lượng cao nhất. Động cơ mạnh mẽ, kiểu dáng tinh tế luôn là đích đến của các sản phẩm Suzuki bên cạnh những công nghệ tiên tiến hiện đại nhất được tích hợp.

Từ những chiếc xe đạp là phương tiện di chuyển phổ thông của những thập niên 1940-1950, qua thập niên 1960 tại miền nam Việt Nam đã được cơ giới hoá một phần lớn với những dòng xe gắn máy và Scooters nhập cảng từ Châu Âu.
Xem thêm: Harley Davidson - Đế chế môtô đại diện cho phong cách Mỹ 

Khi những người Mỹ thuộc những nhóm “thiện nguyện viên Peace Corps” đến giúp phát triển nông nghiệp và công nghiệp vào những năm đầu thập niên 1960 lúc chưa có chiến tranh bùng nổ lớn tại miền nam Việt Nam. Họ có đem theo một số xe gắn máy và scooters nhập cảng từ Nhật Bản để sử dụng trong nhu cầu đi lại. Khác với những chiếc xe gắn máy của Châu Âu, những chiếc xe Nhật có hình dạng cứng cáp và thiết kế hài hoà đã gây được sự chú ý trên đường phố Sài Gòn xưa
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Suzuki M31 - một trong những chiếc xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam

Nằm trong việc cơ giới hoá những phương tiện giao thông ở thành phố lớn như Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã giúp cho những phu xe ngựa – một phương tiện giao thông cồng kềnh và chậm chạp, được thi bằng lái miễn phí và mua xe 3 bánh có động cơ như xe Innocenti Lambro và Piaggio Vespa trả góp để luồng xe cộ giao thông được đồng bộ, tránh sự tắc nghẻn khi tham gia vào lưu thông trong thành phố.
Qua năm 1965, sau khi những chiếc Honda C-50 và S-50 được chính quyền VNCH nhập cảng vào Việt Nam dành cho những công chức và quân nhân, vào đầu năm 1966, là những xe gắn máy 50cc Kawasaki và Suzuki xuất hiện trên đường phố.

Cùng lúc với chiến tranh leo thang giửa 2 miền nam bắc, quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh đổ bộ vào miền nam Việt Nam, vài quân nhân Mỹ sử dụng những xe Suzuki 80cc “Challenger” K11 Super Sport, “Corsair” 80cc K10 Sport, 120cc “Magnum” B100P Super Sport và 250cc “Crusader” T20 Super Sport.
Xem thêm: BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của hãng xe BSA
 
Có tất cả 3 kiểu xe Suzuki 50cc được nhập cảng – loại xe 50cc trở xuống không cần phải có bằng lái xe – với 3 mầu sơn: Đỏ, đen và xanh mà đa số người sử dụng chuộng 2 mầu đỏ và đen.

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Suzuki M15
Kiểu dành cho phụ nữ là chiếc Suzuki 50cc “Suzy” M30 Step-Thru và 2 kiểu dành cho phái nam là chiếc “Cavalier” M12 Mark II Super Sport và chiếc “Collegian” M15 Mark II Sport – cả 2 kiểu xe nam nầy đều là kiểu mới so với các kiểu xe 50cc gọi là Mark I vẫn còn bán tại Châu Mỹ và Châu Âu – với hình dạng bình xăng mới và phuộc nhún trước của xe M15 vay mượn từ kiểu M12 Super Sport.

Mãi cuối năm 1966, những kiểu xe nam 50cc Mark II mà người việt đang sử dụng mới được bán ra ở Châu Mỹ và Châu Âu.

Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Tại Việt Nam phần quảng cáo và khuyến mãi cũng không kém, từ radio mà người ta có thể nghe câu quảng cáo:“Suzuki…thanh lịch trong thành phố, tiện lợi khi vào ngỏ hẻm…” cho đến những khúc phim quảng cáo trong những rạp chiếu bóng và những hình ảnh trên các tờ báo về những chiến thắng của xe đua Suzuki 50cc.
Xem thêm:  Lịch sử Honda và chặng đường phát triển Honda

Phần khác, những người tiêu thụ xe máy vẫn còn ấn tượng tốt với những động cơ 2-thì dùng xăng pha nhớt của các dòng xe Châu Âu nên việc khuyến mãi dòng xe Suzuki cũng dể dàng cho đến khi người sử dụng nhìn ra ưu điểm nổi bật của động cơ 4-thì Honda.
Qua thập niên 1970, chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ cao điểm, số lượng xe Suzuki sử dụng trên các nẻo đường cũng nhiều, mặc dù Suzuki đã đổi kiểu xe 50cc như Suzuki AS50 nhưng số lượng xe mới rất ít, lác đác vài chiếc mà phần lớn nguyên do từ đồng đô-la Mỹ lên giá so với tiền việt đã gây khó khăn cho việc nhập cảng.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm

Mặt khác với những dòng xe Yamaha và Bridgestone động cơ 2-thì với bộ van hút và có hệ thống bình xăng riêng, bình nhớt riêng cạnh tranh ráo riết với những chiếc Suzuki còn dùng chung bình xăng pha nhớt và máy 2-thì cổ điển đã gây khó khăn cho những nhà nhập cảng xe Suzuki.
Ngày nay người ta vẫn còn thấy tuy không nhiều những chiếc Suzuki M30, M12 và M15 còn trong tình trạng hoàn hảo tại Việt Nam nhờ những người ái mộ xe cổ Suzuki bảo dưỡng như báu vật trong nhà…
Xem thêm: Lịch sử của Honda Cub và phân biệt các đời Honda Cub 

Hơn 100 năm tồn tại và phát triển, ngày nay, Suzuki trở thành một thương hiệu toàn cầu, được người tiêu dùng biết đến với những sản phẩm đa dạng, chất lượng và đáng tin cậy. Suzuki có mặt ở hơn 190 quốc gia trên toàn thế giới với các dòng sản phẩm từ xe máy, xe ô tô, động cơ tàu thủy đến nhiều loại sản phẩm có liên quan khác như máy phát điện, máy hàn, động cơ thông dụng, tàu thủy, xe lăn gắn máy, xe ga khởi động điện, các sản phẩm liên quan đến siêu âm (máy hút bụi, máy cắt, v.v.) và thậm chí cả nhà ở và nhà xưởng làm sẵn. Đến năm 2011, Suzuki Motor Corporation đạt doanh số toàn cầu gần 2.900.000 xe ô tô và 2.800.000 xe máy và trở thành một trong những là nhà sản xuất động cơ có doanh số lớn nhất trên toàn thế giới.

Chuyện bên lề của Suzuki

Trong quảng cáo ở Mỹ của Suzuki vào tháng 7 năm 2006, một phiên bản của bài hát "Alive and Amplified" (Sống và Mở rộng) của ban nhạc Mooney Suzuki được chỉnh sửa, xuất hiện trên các quảng cáo thương mại của Suzuki Mỹ, mặc dù tên ban nhạc chẳng dính dáng gì đến tên của hãng.
Suzuki đã tạo ra những chiếc xe máy cho các tập phim Kamen Rider (những tay lái đeo mặt nạ) cho đến nay.
Suzuki cũng tạo ra chiếc xe hơi cho Thám tử Vũ trụ Gavan, Thám tử Vũ trụ Shaider, Siêu điện tử Bioman, (những loạt phim giả tưởng về rô bô, người máy của Nhật) và một loạt các phim sentai và tokusatsu (phim có hiệu ứng đặc biệt của Nhật), đặc biệt là Toei. Suzuki cũng là nhà cung cấp xe máy cho Toei.
Trong các phim hoạt hình của Nhật Boogiepop Phantom, Nagi Kirima lái một chiếc Suzuki GSX250S Katana.
Lịch sử Suzuki Motor- thanh lịch trên phố, tiện lợi trong hẻm
Tay Rapper đã qua đời Eazy E thường lái một chiếc Suzuki Samurai.
Xem thêm:  
  • Phân biệt các đời Su xì po (Suzuki Sport) 1996 - 2006 
  • Su xì po (Suzuki Sport): Ngang tàng và lãng tử  
Tổng hợp
Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe

Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe

Khi đi thay lốp xe mới, người dùng thường chỉ quan tâm đến kích cỡ lốp xe, hãng sản xuất, giá thành mà ít quan tâm đến các thông số kỹ thuật in trên lốp xe có phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình không. Vì thế đã có không ít các sự cố liên quan đến nổ lốp khi chạy ở tốc độ cao hay lốp xe quá ồn, dễ bị “đá chém”

Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe



Điều này không chỉ ảnh hưởng đến độ an toàn khi vận hành và gây thiệt hại về vật chất không nhỏ… Dưới đây là thông số quan trọng của lốp xe mà người dùng cần chú ý hơn khi chọn mua lốp.

Các thông số kỹ thuật của lốp xe được in rõ ràng trên thành lốp như: Hãng sản xuất, thông số kích thước lốp xe, các thông số về tốc độ, tải nặng của lốp, hạn sử dụng (tính theo tuần trong năm)

Một vài thông tin cần nắm trước khi tìm hiểu tiếp


1. Thông số lốp theo hệ inch: (thường dùng cho lốp tubetype)

Trên lốp xe Wolf và các loại lốp dùng ruột, các bác dễ dàng nhìn thấy chỉ số 2.50x17 ở bánh trước và 3.00x17 ở bánh sau. Vậy thông số này có ý nghĩa thế nào?
Thật đơn giản, ta có thể viết chỉ số này ngắn gọn bằng cấu trúc AxB, trong đó A là bề rộng của lốp tiếp xúc với mặt đường và B là đường kính mép trong của lốp.
Ví dụ: 3.00x17 nghĩa là lốp này có đường kính mép trong là 17 inches và khi gắn vào xe bề mặt tiếp xúc mặt đường rộng 3.00 inches.
Trong thông số hệ inch không có chỉ số bề cao của lốp.


2. Thông số lốp theo hệ mét: (thường dùng cho lốp tubeless)

Các loại lốp xe không dùng ruột trên thị trường thường có các chỉ số như 110/80-17, 90/80-17 hoặc 140/70-14. Ta có thể viết cấu trúc như sau: A/B-C
Trong đó, A là bề rộng của lốp tính từ 2 cạnh lốp theo đơn vị mm, B là bề cao của lốp tính theo đơn vị mm theo tỷ lệ % của bề rộng (bề cao = B% của A) và C là đường kính mép trong của lốp tính theo đơn vị inch.
Ví dụ: 110/70-17 là lốp dùng cho niềng 17, rộng 110mm và cao 70% của 110mm (tức là bằng 110/100*70 = 77mm).


3. Thông số của vành xe:

Thông số vành thường được tính theo hệ inch. Ví dụ Wolf dùng vành 1.60x17 và 1.85x17. Trong đó 17inches là đường kính của vành, số còn lại là bề rộng 2 mép.


4. Sử dụng lốp thích hợp với vành:

Thông thường khi chọn lốp, trước tiên phải chọn loại có đường kính phù hợp. Vành có đường kính 17 inches thì gắn lốp có đường kính 17 inches. Sau đó chọn loại có bề rộng lốp phù hợp với công thức:

bề rộng lốp (inch) = bề rộng vành (inch) x 1.7

Nên nhớ bề rộng lốp ở đây là bề rộng mà lốp tiếp xúc với mặt đường.


5. Số lớp bố:

Trên lốp xe thường có một thông số P.R, đây là số lớp bố được ép thành lốp. Chỉ số này cho biết bề dày của lốp. Càng nhiều lớp bố thì lốp càng dày và cứng chắc.
Ví dụ: Wolf sử dụng loại lốp 4 P.R. là loại lốp có 4 lớp bố - mỏng và nhẹ, khi bơm căng xe nảy tưng tưng.
Trên thị trường có nhiều loại lốp với số lớp bố khác nhau tuỳ nhu cầu sử dụng. Đối với Wolf ta có thể dùng loại 6P.R.


6. Như vậy câu hỏi đặt ra là ta có thể sử dụng loại lốp có bản lớn hơn?

Câu trả lời là CÓ THỂ. Tuy nhiên cần phải chú ý đến độ an toàn khi sử dụng lốp lớn. Nên sử dụng lốp có bề mặt tiếp xúc với mặt đường đạt yêu cầu thì để đảm bảo đủ ma sát an toàn khi di chuyển.
Không nên sử dụng lốp có bản quá lớn so với bề rộng vành, vì khi bánh xe được bơm căng, lốp loại này sẽ căng tròn làm cho phần tiếp xúc với mặt đường chỉ là phần đỉnh lốp, diện tích tiếp xúc mặt đường nhỏ rất nguy hiểm khi vào cua - do trọng lượng lốp lớn, quán tính lớn mà ma sát thấp có thể gây trượt, quăng xe.

P/S: Ngoài ra trên lốp còn có các thông số khác như: tải trọng tối đa, áp suất hơi không tải và có tải, giới hạn sử dụng,...
Sưu tầm: Wolf VN

Cách đọc thông số kỹ thuật trên lốp xe

Ở hình trên (đầu tiên) ta đọc được con số P185/75R14 82S

P – Loại xe: Chữ cái đầu tiên cho ta biết loại xe có thể sử dụng lốp này. P “Passenger”: lốp dùng cho các loại xe có thể chở “hành khách”. Ngoài ra còn có một số loại khác như LT “Light Truck”: xe tải nhẹ, xe bán tải; T “Temporary”: lốp thay thế tạm thời.
185 – Chiều rộng lốp:

Chiều rộng lốp chính là bề mặt tiếp xúc của lốp xe với mặt đường. Chiều rộng lốp được đo từ vách này tới vách kia (mm).
75 – Tỷ số giữa độ cao của thành lốp (sidewall) với độ rộng bề mặt lốp:

được tính bằng tỷ lệ bề dày/ chiều rộng lốp. Trong ví dụ trên đây, bề dày bằng 75% chiều rộng lốp (185)
R – Cấu trúc của lốp:

Các lốp thông dụng trên xe hầu như đều có cấu trúc Radial tương ứng với chữ R. Ngoài ra, lốp xe còn có các chữ khác như B, D, hoặc E nhưng hiện nay rất hiếm trên thị trường.
14 – Ðường kính la-zăng:

Với mỗi loại lốp chỉ sử dụng được duy nhất một cỡ la-zăng. Số 14 tương ứng với đường kính la-zăng lắp được là 14 inch.
82S – Tải trọng và tốc độ giới hạn:

Nếu con số này nhỏ hơn tải trọng và tốc độ xe chạy là nguyên nhân dẫn đến nổ lốp xe
*Số 82 – Tải trọng lốp xe chịu được:

Thông thường vị trí này có số từ 75 tới 105 tương đương với tải trọng từ 380 tới 925 kg.

Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe
Bảng tải trọng tương ứng lốp xe
*S – Tốc độ tối đa lốp xe có thể hoạt động bình thường:

Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe


Tốc độ tối đa của lốp:  Bên cạnh chỉ số tải trọng là một chữ cái giới hạn tốc độ tối đa mà lốp có thể hoạt động bình thường, với chữ cái S, lốp xe sẽ có tốc độ tối đa tương ứng là 180 km/h.

Hạn sử dụng của lốp xe

Trên thành lốp bao giờ cũng có 1 dãy mã số. Với 4 chữ số cuối cùng thì chỉ ngày tháng năm sản xuất ra chiếc lốp đó. Ví dụ nếu 4 chữ số cuối dãy là 1404, có nghĩa là lốp này xuất xưởng vào tuần thứ 14 của năm 2004. Thời hạn sử dụng nhà sản xuất khuyên dùng là không quá 6 năm từ ngày sản xuất. Một chiếc lốp quá “đát” thường bị mờ dãy số này, cho dù nhìn bề ngoài thì có vẻ như chẳng có vấn đề gì cả. Khi đã quá hạn sử dụng có nghĩa là lốp đã mất hết những tính năng vốn có. Nhà sản xuất đã lường trước điều này và khuyên rằng kể cả những chiếc lốp mới không dùng mà chỉ cất trong kho nhưng đã hết hạn sử dụng thì xem như đã kết thúc vòng đời.

Trong trường hợp này là lốp xe được sản xuất vào tuần thứ 8 của năm 2006

Cách đọc thông số lốp xe để lựa chọn lốp khi độ xe

Ngày sản xuất lốp Uniform Tire Quality Grades cho biết kết quả các cuộc kiểm tra của cơ quan nhà nước với độ mòn gân lốp, độ bám đường và độ chịu nhiệt. Tuy nhiên, việc kiểm tra được uỷ nhiệm cho nhà sản xuất tiến hành.

Treadwear là thông số về độ mòn gân lốp xe với tiêu chuẩn so sánh là 100.
Lưu ý: cấp độ kháng mòn lốp chỉ áp dụng để so sánh các sản phẩm của cùng một nhà sản xuất và không có giá trị so sánh giữa các nhà sản xuất khác nhau.
  • Trên 100 – Tốt hơn
  • 100 – Mức chuẩn
  • Dưới 100 – Kém hơn
Traction là số đo khả năng dừng của lốp xe theo hướng thẳng, trên mặt đường trơn.
  • AA là hạng cao nhất
  • A – Tốt nhất
  • B – Trung bình
  • C – Chấp nhận được
Temperature đo khả năng chịu nhiệt độ của lốp khi chạy xe trên quãng đường dài với tốc độ cao, độ căng của lốp hay sự quá tải.
  • A – Tốt nhất
  • B – Trung bình
  • C – Chấp nhận được
  • M + S: có nghĩa là lốp xe đạt yêu cầu tối thiểu khi đi trên mặt đường lầy lội hoặc phủ tuyết.
Maximum load: trọng lượng tối đa mà lốp xe có thể chịu, tính theo đơn vị pound hoặc kg.

Maximum Inflation Pressure: tính theo đơn vị psi (pound per square inch) hoặc kPA (kilopscal). Không bao giờ được bơm lốp xe vượt qua thông số quy định về áp lực hơi tối đa.
Stylebui.com (sưu tầm)
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Bất cứ biker đam mê classic và dirt-bike nào cũng ít nhiều biết đến Triumph, một hãng xe nổi tiếng với những mẫu xe hầm hố ở phân khúc thị trường cao cấp.
Hãng Triumph đã trải qua một quãng đường dài đầy chông gai để chinh phục từ thị trường Châu Âu đến thị trường thế giới. Và sau nhiều năm phấn đấu và phát triển không ngừng, tên tuổi của Triump đã được giới biker gắn vào top những hãng xe hàng đầu trong làng mô tô phân khối lớn.

Lịch sử Triumph Motor

Năm 1884, Một người đàn ông tên Siegfried Bettmann đã di cư từ Đức đến Anh Quốc để thực hiện ước mơ kinh doanh của mình. Ban đầu ông Siegfried đã dùng số tài sản mình mang theo để mở nên một công ty chuyên nhập khẩu xe từ các nước khác. Người đàn ông này đã làm việc bằng niềm yêu thích và một ý chí cầu tiến vượt bật, nên công việc kinh doanh của ông đạt được nhiều bước tiến.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Không bằng lòng với công việc kinh doanh chỉ nhập khẩu những chiếc xe của người khác, ông Siegfried bắt đầu tìm tòi để sản xuất ra những chiếc xe cho riêng mình. Năm 1902 chiếc xe đầu tiên của hãng Triumph ra đời. Nhưng một năm sau đó, 1903 mới thực sự là cột mốc lịch sử của Triumph khi họ tự sản xuất ra một chiếc xe máy hoàn toàn của riêng mình mà không cần bất cứ nguồn lực hay gia công bên ngoài nào.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Năm 1914 hãng Triumph của ông Siegfried đã cho ra mắt một mẫu xe đánh dấu hình ảnh của Triumph trên thị trường xe máy thời đó, mẫu xe này đã đồng loạt xuất hiện trên nhiều mặt báo, đó là chiếc Type-B-Roadster-Fixed.


Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Chưa đầy một năm sau đó mẫu xe B Roadster đã được cải tiến gắn thêm một thùng bên thành mẫu H sidecar với số lượng sản xuất kỷ lục: 57,000 chiếc từ năm 1915 đến 1923.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Nhờ những cú hít mà Triumph đã tạo ra trước đó nên trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các hãng xe đều phải ngừng sản xuất thì Triumph ngược lại, họ sản xuất nhiều xe để phục vụ các nước đồng minh.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Sau khoảng thời gian khốc liệt nhất của thế chiến thứ II (khoảng năm 1937 -1940) nhà máy sản xuất chính ở Coventry bị phá huỷ. Đến năm 1942 một nhà máy mới được thiết lập tại Meriden, West Midlands. Kể từ khi xây dựng bản doanh mới thời cơ của Triumph cũng bắt đầu. Khi ở Mỹ – thị trường lớn nhất của Triumph – đã tăng vọt lượng cầu rất lớn đối với dòng xe cruiser chạy đường dài. Chính vì lí do này mà những mẫu sử dụng động cơ Speed Twin 650 phân khối huyền thoại chính thức ra đời.

Năm 1951, dưới sự cạnh tranh gây gắt của nhiều hãng xe lớn và sự thất thủ của quân đồng minh (nguồn tiêu thụ chính của Triumph), Triumph lúc này thất thế và bị mua lại bởi đối thủ lớn nhất là hãng BSA và trở thành một thành viên của BSA Group. Suốt những năm 1960, Triumph chững lại và chỉ ra đời một số mẫu xe nhỏ động cơ 2 thì 100 phân khối như Triumph Tina, hay 250 phân khối như Triumph Tigress.


Những năm 70 bằng sự cố gắng của đội ngũ kỹ sư và công nhân đầy nhiệt huyết, Triumph đã quay lại thời kì thành công của họ và trở thành một trong những nhà sản xuất mô tô lớn nhất thế giới với hai mẫu xe Triumph Bandit 350 phân khối và Trident 750 phân khối.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Nhưng vận xui vẫn đeo bám hãng xe Anh quốc, vào năm 2002, nhà máy lớn nhất bị phá hủy bởi một trận hỏa hoạn khi đang có ý định chuẩn bị kỷ niệm sinh nhật 100 tuổi. Tuy nhiên, một nhà máy mới đã được nhanh chóng xây dựng tại Thái Lan ngay sau đó. Có lẽ ở một phương diện nào đó sự kiện này cũng đánh dấu sinh nhật 100 năm của Triumph bằng một cách thật ấn tượng.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển
Dù kỷ niệm 100 năm không suôn sẻ nhưng vào năm 2012, Triumph tung ra phiên bản Bonneville T100 để đặc biệt đánh dấu cột mốc 110 năm thành lập và phát triển tên tuổi của họ trong làng mô tô thế giới.

Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

Triumph Bonneville đã trở thành một biểu tượng cho dòng Classic và là mẫu xe chuẩn mực cho dân độ xe vì khả năng tương thích với nhiều kiểu dáng như Scrambler, Cafe Racer, Bobber...

Cho đến nay, dù đã trải qua bao thăng trầm nhưng có thể chắc chắn rằng Triumph đã trở thành một tên tuổi lớn và uy tín hàng đầu trong làng mô tô thế giới.
Xem thêm: Lịch sử Honda và chặng đường phát triển Honda

Một vài mẫu Triumph tiêu biểu cho bạn lựa chọn

1. Triumph Bonneville T100 23.000 $
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

2. Triumph America 21.000 $
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

3. Triumph Speedmaster 21.000 $
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

4. Triumph Thruxton 26.000 $ 
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

5. Triumph Street Twin 22.000$
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

6. Triumph Scrambler  24.000 $
Lịch sử Triumph Motor - Kẻ dẫn đường cho phong cách cổ điển

* GIÁ TRÊN CHỈ MANG TÍNH THAM KHẢO (THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Sưu tầm
Kawasaki - Chặng đường chinh phục đỉnh cao của tốc độ

Kawasaki - Chặng đường chinh phục đỉnh cao của tốc độ

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Kawasaki được mệnh danh là "Triumph của Nhật" nhờ những dòng xe Classic tiêu biểu đại diện cho sự phát triển dòng xe cổ điển châu Á. Thế nhưng không chỉ thành công ở dòng xe cổ điển, Kawasaki còn đặc biệt thành công ở mẫu xe Sport, đặc biệt là dòng Z - là mơ ước của bao nhiêu gã si mê tốc độ.

Những bước chập chững vào làng mô-tô

Công ty Kawasaki được thành lập vào năm 1896 bởi Shozo Kawasaki hoạt động như một nhà máy đóng tàu chuyên đóng tàu thép vượt biển. Lúc đầu, họ chế tạo các tua bin hơi nước biển , đầu máy xe lửa , xe chở hàng , xe chở khách và dầm cầu. Năm 1918 Bộ phận phát triển Máy Bay được thành lập và sau thời gian nghiên cứu kéo dài Kawasaki đã thành công trong việc chế tạo máy bay kim loại đầu tiên của Nhật Bản . Sau đó, đến năm 1949 và họ quay về phía ngành công nghiệp xe máy bằng việc chế tạo các phụ tùng xe máy.

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Mẫu xe Meihatsu 125 Deluxe

Kawasaki đã cho ra đời chiếc xe máy đầu tiên vào năm 1954 , tên gọi là Meihatsu . Chiếc xe có động cơ riêng của Kawasaki là KB -5 và một mẫu cải tiến của Meihatsu đã được giới thiệu vào năm 1956. Họ gọi nó là Meihatsu 125 Deluxe mãi đến năm 1956 logo Kawasaki mới chính thức được in lên bìa động cơ.

Xem thêm: Lịch sử xe Vespa và phân biệt các dòng xe Vespa cổ

Một phần lớn trong bộ phận phát triển Xe máy của hãng Kawasaki đã được kế thừa từ công ty Xe máy Meguro, một trong những công ty hàng đầu trong sản xuất xe máy tại Nhật Bản thời điểm đó . Họ đã có một thời gian hoạt động tốt trong khoảng 30 năm , nhưng cuối cùng Meguro đã bị Kawasaki mua lại , và thực tế đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của Kawasaki sau này. Đến năm 1962 Meguro hoàn toàn biến mất trên thị trường.

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Mẫu xe Kawasaki W1 650cc.

Năm 1960 Kawasaki thực hiện sản xuất xe máy riêng của mình và sáu năm sau họ cho ra đời mẫu xe dung tích 650cc W1. Đây không phải là một thành công lớn vì những chiếc xe đối thủ là nhanh hơn rất nhiều tại thời điểm đó , nhưng đó vẫn còn là một nỗ lực đáng chú ý . Sau đó Kawasaki cho ra các mẫu xe dung tích thấp hơn là 250 cc A1 Samurai và 350cc A7 Avenger nhưng cũng chưa được thành công. Đến năm 1969 Kawasaki bắt đầu được chú ý như một đối thủ lớn trên thị trường xe máy khi họ phát hành mẫu xe H1 500cc (còn gọi là Mach III).

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Kawasaki S2 350cc

Vì sự thành công đó, họ đã cho ra 2 mẫu dung tích nhỏ hơn có cùng ý tưởng từ H1 là mẫu 250cc S1 và S2 350cc . Đối với những khách hàng muốn sở hữu những chiếc xe mạnh mẽ hơn, Kawasaki đã phát triển một phiên bản 748cc , H2 (Mach IV) vào năm 1972.
Xem thêm: 
  • Moped là gì? Lịch sử và phân loại của dòng xe Moped
  • Lịch sử của Honda Cub và phân biệt các đời Honda Cub

Thành công sau nhiều năm miệt mài

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Mẫu xe Kawasaki Z1.​

Đến năm 1973 Kawasaki giới thiệu superbike đầu tiên của họ , Z1 trong đó có một động cơ 903cc . Do nó có giá thành và hiệu suất tỷ lệ rất tốt vì vậy nó đã trở nên rất phổ biến . Ba năm sau, nhà sản xuất Nhật Bản cải tiến Z1 và biến nó thành một chiếc xe mạnh hơn được gọi là Z900.

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Kawasaki Z1300

Các ” dòng Z ” tiếp tục là Z1300 (1978), Z400FX (1979) và xe máy đi theo định hướng sản xuất hàng loạt Nhật Bản đầu tiên là KZ440LTD , cũng trong nắm đó Kawaski thâm nhập thị trường Mĩ. Họ đã sử dụng cùng một công nghệ cho hai mẫu xe dành cho Nhật Bản là Z250LTD và Z400LTd , phát hành vào năm 1983. năm 1982, Kawasaki bắt đầu bán các mẫu Z400GP trên thị trường Nhật Bản và Z1000R ở Mỹ.
Xem thêm: Xe cổ BSA - Lịch sử và cái chết được báo trước của BSA

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Kawasaki GPZ900R - King of the Road

Một trong những chiếc xe đáng chú ý nhất trong lịch sử Kawasaki , các xe GPZ900R cũng được phát hành vào năm 1983 . Đây là mẫu đầu tiên được sản xuất bởi Kawasaki có một động cơ làm mát bằng nước và để đạt được 250 km/h . Một năm sau đó, họ bắt đầu bán chiếc xe này ở Mỹ và họ đổi tên thành Ninja và có doanh số khá cao. Các mẫu ZZR -110 , chiếc xe nhanh nhất trong thời gian năm năm thời điểm đó, được cho ra đời vào năm 1990. Với động cơ dung tích 1052cc, danh hiệu đạt được không làm bạn quá ngạc nhiên. Nhưng nó cũng có một khung mạnh mẽ và hệ thống giảm xóc hài hòa. trong những năm 1990 , Kawasaki đã có một vài mẫu xe đáng chú ý như GPz1100 ABS ( 1996), Super Sherpa (1997) dành cho off-road .

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Kawasaki Ninja ZX - 12R

Vào năm 2000, Kawasaki bắt đầu bán mẫu Ninja ZX- 12R tai thị trường Mĩ được trang bị động cơ dung tích 1200cc và một khung nhôm nguyên khối. Ba năm sau đó, Kawasaki công bố thêm ba mẫu xe, Ninja ZX- 6R , Ninja ZX-6RR và một mẫu xe thích hợp di chuyển trên đường phố là Z1000.

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Mẫu xe Kawasaki Z1000 đầu tiên ra đời năm 2003.

Chặng đường chinh phục đỉnh cao tốc độ của hãng Kawasaki
Mẫu xe Kawasaki Z1000 phiên bản 2014.​
Xem thêm:

  • Harley Davidson - Đế chế môtô đại diện cho phong cách Mỹ
  • Lịch sử Honda và chặng đường phát triển Honda
  • Dân chơi Sidecar Việt Nam : Nỗi ám ảnh về "chiếc xe ba bánh"

Sưu tầm
Kawasaki
Stylebui